Cardcaptor Sakura | |
![]() Bìa tập đầu tiên của manga Cardcaptor Sakura, với Kinomoto Sakura. | |
| カードキャプターさくら (Kādokyaputā Sakura) | |
|---|---|
| Thể loại | Mahō shōjo, Lãng mạn |
| Sáng tác | CLAMP |
Manga | |
| Tác giả | CLAMP |
| Nhà xuất bản | |
| Nhà xuất bản tiếng Việt | |
| Đối tượng | Shōjo |
| Tạp chí | Nakayoshi |
| Đăng tải | Tháng 5 năm 1996 – Tháng 6 năm 2000 |
| Số tập | 12 |
Anime truyền hình | |
Biểu trưng anime Cardcaptor Sakura. | |
| Đạo diễn | Asaka Morio |
| Sản xuất | Kondo Eizo |
| Kịch bản | Ohkawa Nanase (CLAMP) |
| Thiết kế nhân vật | Takahashi Kumiko |
| Âm nhạc | Negishi Takayuki |
| Hãng phim | |
| Cấp phép |
|
| Kênh gốc | NHK BS2 |
| Kênh tiếng Việt | |
| Phát sóng | 7 tháng 4, 1998 – 21 tháng 3, 2000 |
| Số tập | 70 |
Khác | |
Cardcaptor Sakura (Nhật: カードキャプターさくら Kādokyaputā Sakura), viết tắt là CCS và còn được biết đến với nhan đề Thủ lĩnh thẻ bài, là một loạt shōjo manga được sáng tác và minh họa bởi nhóm nghệ sĩ Nhật Bản CLAMP. Manga được đăng lần đầu tiên trên tạp chí Nakayoshi từ tháng 5 năm 1996 đến tháng 6 năm 2000, và sau đó được Kōdansha phát hành thành 12 tập tankōbon từ tháng 11 năm 1996 đến tháng 7 năm 2000. Câu chuyện xoay quanh Kinomoto Sakura, một học sinh tiểu học tình cờ phát hiện ra mình đang nắm giữ một sức mạnh kì diệu sau khi vô tình giải phóng một bộ thẻ bài ma thuật đã được niêm phong nhiều năm trong một quyển sách. Sau đó cô được giao nhiệm vụ phải thu phục tất cả thẻ bài đang phân tán nhằm ngăn chặn chúng phá hủy thế giới. Phần tiếp theo của manga này, Cardcaptor Sakura – Thẻ bài pha lê, theo chân Sakura khi cô đã học lên cấp 2, bắt đầu đăng thường kỳ trên Nakayoshi từ tháng 7 năm 2016.[1]
Tác phẩm được chuyển thể thành một bộ anime truyền hình dài 70 tập bởi Madhouse, phát sóng tại Nhật Bản trên kênh NHK BS2 từ tháng 4 năm 1998 đến tháng 3 năm 2000. Hai bộ phim anime điện ảnh cũng được hãng này sản xuất và công chiếu vào tháng 8 năm 1999 và tháng 7 năm 2000. Một số loại hình truyền thông dựa theo khác gồm trò chơi điện tử, artbook, sách tranh, truyện tranh anime và tiểu thuyết anime. TVM Comics mua bản quyền phát hành phiên bản tiếng Việt của manga tại thị trường Việt Nam từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 10 năm 2015, do Nhà xuất bản Hải Phòng ấn hành. Anime cũng được công ty mẹ của TVM Comics là TVM Corp. cấp phép phát sóng bản lồng tiếng Việt trên kênh HTV3 trong năm 2010; tên phim được dịch thành Thủ lĩnh thẻ bài. Trước đó bản tiếng Việt của cả truyện lẫn phim đã vài lần được ra mắt một cách không chính thức bởi một số đơn vị phát hành. Năm 2018, bản quyền phát sóng bản tiếng Việt được chuyển giao cho Purpose Media. Cho đến nay không có bất cứ kế hoạch nào để phát hành bản tiếng Việt dưới dạng băng đĩa.
Tại Bắc Mỹ, manga được phát hành lần đầu tiên bởi Tokyopop từ tháng 3 năm 2000 đến đến tháng 8 năm 2003, về sau bản quyền được chuyển sang cho Dark Horse Manga và công ty này ấn hành bộ truyện dưới dạng tuyển tập từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 9 năm 2012. Nelvana mua bản quyền phân phối và phát sóng anime lồng tiếng Anh trên kênh Kids' WB từ tháng 6 năm 2000 đến tháng 12 năm 2001 dưới nhan đề Cardcaptors. Ở hầu hết các vùng lãnh thổ nói tiếng Anh, phim được chiếu đầy đủ 70 tập, duy chỉ có phiên bản Hoa Kỳ là bị rút ngắn còn 39 tập sau khi trải qua sự biên tập nặng nề. Về sau các công ty Geneon và NIS America tiếp quản bản quyền phim và phát hành các phiên bản không biên tập kèm phụ đề tiếng Nhật. Cardcaptor Sakura phổ biến ra toàn thế giới khi được phát sóng tại nhiều quốc gia và khu vực khác nhau ở châu Âu, Mỹ Latinh (chủ yếu trên hệ thống kênh Cartoon Network và Boomerang), Australasia, Trung Đông (chủ yếu trên Spacetoon) và Đông Nam Á (chủ yếu trên Animax Asia).
Các nhà phê bình đã ca ngợi sự sáng tạo của manga và mô tả nó là tinh hoa của thể loại truyện tranh dành cho thiếu nữ, cũng như là một tác phẩm tối quan trọng trong thế giới manga nói chung. Cardcaptor Sakura được trao Giải thưởng Seiun với danh hiệu Manga xuất sắc nhất năm 2001. Chuyển thể anime truyền hình được đánh giá cao vì thu hút cả sự chú ý của mọi lứa tuổi khán giả từ trẻ em đến người lớn. Công nghệ đồ họa trong phim cũng được khen ngợi vì vượt trội hơn những anime cuối thập niên 1990, và những màn biểu diễn phép thuật của Sakura được miêu tả là "gần như độc nhất." Anime đã thắng giải Animage Grand Prix với danh hiệu Anime xuất sắc nhất năm 1999. Trái lại, phiên bản Cardcaptors lồng tiếng Anh chịu sự chê trách gay gắt vì những chỉnh sửa ảnh hưởng nghiêm trọng đến kịch bản.
Cardcaptor Sakura lấy bối cảnh trong một thị trấn hư cấu ở Nhật Bản tên là Tomoeda, tọa lạc gần Tokyo. Cô bé 10 tuổi Kinomoto Sakura vô tình giải phóng một bộ thẻ bài ma thuật gọi là Clow trong một quyển sách bị niêm phong dưới tầng hầm nhà mình. Được tạo ra và đặt tên theo pháp sư Clow Reed, mỗi lá bài trong bộ thẻ có quyền năng riêng và xuất hiện dưới hình dạng tương ứng khi được giải phóng. Thần thú giám hộ bộ bài là Kerberos cũng thoát ra khỏi cuốn sách và giao cho Sakura nhiệm vụ thu phục các thẻ bài đã thất lạc. Để làm việc này, Sakura phải chiến đấu và đánh bại những thuộc tính ma thuật của từng thẻ bài một mỗi khi tìm thấy chúng. Kerberos đóng vai trò là người hướng dẫn của cô, trong khi người bạn thân nhất và có họ hàng với cô là Daidouji Tomoyo quay hình lại toàn bộ quá trình chiến đấu và thiết kế trang phục cho Sakura. Anh trai của Sakura là Kinomoto Tōya luôn quan sát mọi hoạt động của cô một cách âm thầm và vờ như mình không biết gì cả.
Li Syaoran, một cậu bé bằng tuổi với Sakura và là hậu duệ của Clow Reed, chuyển đến từ Hồng Kông với mục đích chiếm các thẻ bài cho riêng mình. Dù ban đầu là đối thủ của nhau, cậu dần tôn trọng Sakura và bắt đầu giúp đỡ cô thu phục chúng. Khi Sakura đã nắm trong tay tất cả thẻ bài, cô phải trải qua sự thử thách của Yue, người giám hộ thứ hai của bộ bài, nhằm chứng minh mình xứng đáng trở thành tân chủ nhân của bộ bài Clow; Yue là hình dạng thật của Tsukishiro Yukito, bạn thân nhất Tōya. Được sự hỗ trợ của giáo viên Mizuki Kaho, cô bé cuối cùng đã vượt qua thử thách và chính thức trở thành chủ nhân mới của bộ bài Clow.
Một thời gian sau, Hiiragizawa Eriol, một học sinh chuyển trường từ Anh, đến Tomoeda và gây náo loạn cùng với hai sinh vật giám hộ, Spinel Sun và Ruby Moon. Vì đột nhiên không thể kích hoạt bộ bài Clow, Sakura đã dùng gậy phép của cô tạo ra một phép thuật mới, có thể biến thẻ bài Clow thành thẻ bài Sakura. Mục đích sự gây rối của Eriol cũng là để ép Sakura sử dụng và chuyển đổi một số thẻ bài nhất định. Sau khi quá trình chuyển đổi thẻ bài kết thúc, Eriol giải thích với Sakura rằng cậu đã giúp đỡ cô bé nhằm giữ cho bộ bài không bị mất đi phép lực. Syaoran sau đó thổ lộ tình cảm mình dành cho Sakura, trong khi bản thân cô bé cũng nhận ra mình đã phải lòng cậu. Cardcaptor Sakura kết thúc khi Syaoran quay về Hồng Kông với lời hứa sẽ trở lại. Hai năm sau, Syaoran chuyển đến sống ở Tomoeda mãi mãi, và kịch bản được tiếp nối bởi hậu truyện Cardcaptor Sakura – Thẻ bài pha lê.
Cốt truyện của chuyển thể anime được mở rộng, khi có đến 52 thẻ bài thay vì 19 như trong manga nguyên tác, và một số phân cảnh bị thay đổi và trì hoãn, như hình dạng thật của Kerberos không được tiết lộ cho đến khi Yue xuất hiện.[2] Một vài hoàn cảnh thu phục thẻ bài bị thay đổi, chẳng hạn như Syaoran có được một số thẻ bài cho riêng mình và cũng được Yue thử thách. Cô em họ luôn ngưỡng mộ Syaoran, Li Meiling, chỉ được giới thiệu trong anime, xem Sakura vừa là bạn vừa là tình địch trong nửa sau bộ phim cho đến khi cô quay về Hồng Kông. Anime truyền hình sắp đặt mối quan hệ giữa Sakura và Syaoran trong tình trạng không rõ ràng, nhưng Sakura đã thổ lộ với Syaoran trong đoạn kết của bộ phim điện ảnh thứ hai, Gekijōban Cardcaptor Sakura: Fuuin Sealed Card. Cũng trong bộ phim này, Sakura tạo ra thẻ bài thứ 53, Hope, một quyền năng không có trong manga.
Cardcaptor Sakura ra đời một thời gian ngắn sau khi manga Magic Knight Rayearth của CLAMP kết thúc quá trình đăng tải trên tạp chí Nakayoshi do nhà xuất bản Kōdansha ấn hành.[3] Trưởng ban biên tập của CLAMP là Yamonouchi Hideki đã đề xuất họ thực hiện một tác phẩm khác cho Nakayoshi, và nhóm đã quyết định sáng tác một xê-ri "phong cách Nakayoshi", trái ngược với Rayearth, và mô tả nó là bộ truyện không giống như bất kì tác phẩm nào trước đó của họ.[4] Chủ bút Ohkawa Nanase của CLAMP nảy ra ý tưởng đầu tiên là sáng tác một bộ truyện mahō shōjo (cô gái phép thuật), mặc dù cô không thành thạo thể loại này. Ohkawa muốn nhân vật nữ chính Sakura cùng nhóm tuổi với phần lớn độc giả của Rayearth để người hâm mộ cảm thấy gần gũi hơn với cô bé. Vì Sakura có sự khác biệt so với cách xây dựng nhân vật thông thường của CLAMP, Ohkawa đã thiết kế một số nhân vật như Tomoyo và Kerberos sao cho tương đồng với những sáng tác trước đây. Khi Ohkawa đã nghĩ ra đủ thông tin về nhân vật, đến lượt ba họa sĩ trong CLAMP—Mokona, Nekoi Tsubaki và Igarashi Satsuki—vẽ phác thảo họ dựa theo lời mô tả của cô. Khi tạo hình cho Kerberos, Ohkawa muốn có một mẫu linh vật bầu bạn với Sakura, nhưng Nekoi đã phải thử vẽ nhiều hình dáng khác nhau, bao gồm chó và sóc, trước khi chính thức xuất xưởng phiên bản cuối cùng. Syaoran và Tōya được xây dựng để trở thành một dạng nhân vật phổ biến trong các tác phẩm của CLAMP.[3]
Đã có nhiều đề xuất về nhan đề cho bộ truyện này, như Cardcaster Sakura và Card Character Sakura, trước khi Nekoi chốt cái tên Cardcaptor Sakura. Mặc dù Ohkawa là người hoạch định dự án Cardcaptor Sakura từ đầu đến cuối, cô không bao giờ tiết lộ cốt truyện với các thành viên khác của nhóm, mà chỉ đưa cho họ kịch bản của từng chương một. Ban đầu Mokona vẽ Tomoyo theo hướng phải lòng Tōya, vậy nên cô đã hoàn toàn bất ngờ khi nhận được kịch bản của chương truyện cho thấy Tomoyo yêu Sakura. Kịch bản được dự kiến sẽ thuộc loại câu chuyện "cứ cố gắng hết sức rồi sẽ thành công," nhưng thay vào đó Ohkawa lại triển khai tác phẩm theo lối suy nghĩ "mọi chuyện rồi cũng sẽ ổn thôi mà" của Sakura. Ohkawa muốn xây dựng một cốt truyện mà "thiểu số sẽ cảm thấy thoải mái," ngụ ý những mối quan hệ đồng tính và cấm kỵ thường thấy trong manga. Chủ đề chính của tác phẩm được thể hiện qua Sakura, kiểu nhân vật chính có những suy nghĩ cởi mở về sự khác nhau giữa quan hệ gia đình và các hình thái của tình yêu. Lấy Tomoyo và Sakura làm ví dụ, Ohkawa chỉ ra loại tình cảm điển hình trong tác phẩm. Cô lý giải việc Tomoyo và Sakura cuối cùng không trở thành một cặp chẳng phải vì Tomoyo là con gái, mà bởi vì Sakura không yêu Tomoyo theo một cách lãng mạn.[3]
Chủ đề trung tâm của Cardcaptor Sakura là tình yêu và các mối quan hệ giữa người với người. Suốt tác phẩm, nhiều dạng thức của tình yêu được phơi bày, bao gồm "tình yêu giữa anh chị em, tình yêu tuổi mới lớn, tình yêu không được đáp trả, [và] tình yêu đúng nghĩa".[5] Đôi khi, CLAMP bỏ qua cả thẻ bài Clow trong nhiều chương để tập trung hơn vào các mối quan hệ của Sakura và những người xung quanh cô. Những mối quan hệ hoàn toàn đơn thuần như bản chất của chúng, được CLAMP thận trọng thể hiện theo cách tránh phải suy xét về tính đúng đắn. Đơn cử, tình cảm lãng mạn giữa nữ sinh tiểu học Sasaki Rika và người thầy của cô là Terada Yoshiyuki dưới ngòi bút của CLAMP có thể được nhìn nhận thành một câu chuyện "hoàn thành tâm nguyện" ngọt ngào và trong sạch, hoặc nếu đánh giá nghiêm túc hơn: một chuyện tình ái nhi mức độ nhẹ.[5]
Ohkawa đã khuyên các họa sĩ, đặc biệt là Mokona, đi những nét mảnh và cố gắng diễn tả mọi thứ bằng các đường cong đối lập với đường thẳng.[3] Phong cách nghệ thuật của tác phẩm đã được duyệt xét ngay từ đầu để thống nhất với thế giới quan trong Cardcaptor Sakura. Ohkawa muốn có một bộ truyện tạo cảm giác "mềm mại, dễ thương", vì vậy cô đã yêu cầu họa sĩ không sử dụng quá nhiều mực và cần làm sáng trang truyện. Khi phải vẽ rất nhiều hoa dùng làm cảnh nền cho manga, Nekoi tham khảo hàng loạt tài liệu để tìm bông hoa thích hợp, và cố gắng tránh vẽ trùng một loại hoa nhiều hơn một lần trong mỗi chương. Igarashi nhận xét rằng họ "chưa bao giờ phải minh họa nhiều hoa như vậy trong một tác phẩm," nhưng cả nhóm cố ý không sử dụng hoa hồng. CLAMP muốn kết hợp yếu tố chuyển đổi cảnh nền vào Cardcaptor Sakura, nhưng vì nhiều manga thể loại cô gái phép thuật khác cho nhân vật nữ mặc đồng phục chiến đấu, nhóm muốn Sakura khoác lên người nhiều kiểu quần áo phong phú. CLAMP cảm thấy rằng "thật là chán khi một cô gái chỉ mặc độc một bộ đồ mọi lúc."[6]
Manga[sửa | sửa mã nguồn]
Nguyên bản của Cardcaptor Sakura là một xê-ri manga viết và minh họa bởi nhóm nghệ sĩ CLAMP. Tác phẩm được đăng thường kì hàng tháng trên tạp chí shōjo (nhằm vào những thiếu nữ) Nakayoshi từ tháng 5 năm 1996 đến tháng 6 năm 2000.[2]Kōdansha biên tập các chương này và xuất bản thành 12 tankōbon từ tháng 11 năm 1996 đến tháng 7 năm 2000.[7][8] Kōdansha sau đó tái bản loạt truyện dưới dạng bìa cứng và khổ lớn hơn với hình bìa được thay đổi, gọi là "ấn bản mới" (新装版 shinsōban), từ tháng 3 năm 2004 đến tháng 2 năm 2005.[9][10] Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2015, Cardcaptor Sakura vinh dự được phát hành ấn bản đặc biệt mới nhân kỷ niệm 60 năm ra đời tạp chí Nakayoshi. Truyện được in thành chín tập dày với minh họa bìa hoàn toàn mới có dập nhũ, kèm theo các trang minh họa màu và một hướng dẫn truy cập vào phiên bản số hóa tương ứng trên website của Kōdansha; riêng tập cuối cùng còn được phát hành song song hai phiên bản thông thường và đặc biệt.[11][12][13]
Phiên bản tiếng Việt của Cardcaptor Sakura ra mắt lần đầu tiên vào năm 2002, do Nhà xuất bản Thanh Hóa ấn hành tại Việt Nam dưới nhan đề Cô bé hoa anh đào.[14] Cũng như hầu hết xuất bản phẩm nước ngoài trước khi Việt Nam ký Công ước Bern vào năm 2003,[15] truyện được in ấn và dịch lậu, không có bản quyền. Dù vậy, trang VietNamNet nhìn nhận tác phẩm là truyện tranh "gối đầu giường" của thế hệ trẻ sinh ra vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 (thế hệ 9X) ở nước này.[16] Năm 2016, công ty TVM Comics cấp phép dịch và phát hành manga với nhan đề gốc trên cơ sở bám sát theo nguyên bản in lần đầu tiên tại Nhật Bản vào năm 1996. Truyện do Nhà xuất bản Hải Phòng ấn hành, ra mắt từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 10 năm 2015.[17][18][19] Giữa tháng 1 năm 2015, MangaHolic—một cộng đồng người hâm mộ anime và manga có nền tảng hoạt động trên mạng xã hội Facebook, đã tổ chức cuộc thi bình chọn chất lượng truyện tranh xuất bản tại Việt Nam trong năm 2014; Cardcaptor Sakura của TVM Comics bị đánh giá tiêu cực khi giành giải "Hình thức tệ nhất."[20]
Kōdansha cũng từng phát hành sáu tập đầu tiên của Cardcaptor Sakura ở phiên bản song ngữ Nhật-Anh từ tháng 5 năm 2000 đến tháng 7 năm 2001.[21][22] Các tập song ngữ này là một phần của đề án thí điểm nhằm giúp đỡ trẻ em Nhật Bản học tiếng Anh. Kōdansha ngừng phát hành phiên bản song ngữ sau khi Tokyopop mua bản quyền phát hành tác phẩm bằng tiếng Anh ở thị trường Bắc Mỹ[2][23] từ tháng 3 năm 2000 đến tháng 8 năm 2003.[24][25] Sáu tập đầu phiên bản tiếng Anh thay vì in theo cách đọc truyền thống của người Nhật, với các khung truyện được xếp từ phải sang trái, đã bị biên tập "ngược" thành cách đọc kiểu phương Tây với các khung truyện từ trái sang phải. Những tập này sau khi đã trả về cách đọc gốc được tái bản thành hai box set, mỗi hộp chứa ba tập truyện.[26][27] Từ tập 7 đến tập 12 có kèm theo phụ đề Master of the Clow và bám sát cách đọc kiểu Nhật. Madman Entertainment đã dùng bản dịch tiếng Anh của Tokyopop để xuất bản loạt truyện tại Úc và New Zealand.[28]Dark Horse Manga phát hành phiên bản tiếng Anh mới dưới dạng bốn hợp tuyển, mỗi hợp tuyển gồm nội dung của ba tập truyện, từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 9 năm 2012..[29][30]
Đài Loan và Hồng Kông là hai địa phương xuất bản Cardcaptor Sakura sớm nhất bên ngoài lãnh thổ Nhật Bản bằng chữ Hán phồn thể. Tại Đài Loan, Nhà xuất bản Trưởng Hồng ra mắt tập đầu tiên của manga vào tháng 6 năm 1997 dưới nhan đề Sakura: Ma pháp sư Clow (庫洛魔法使 Sakura; Khố Lạc Ma Pháp Sư Sakura), chỉ chưa đầy một năm sau khi tập truyện tương ứng tiếng Nhật đến với công chúng, và hoàn tất việc xuất bản vào tháng 2 năm 2001.[31][32][33]Nhà xuất bản Thiên Hạ của Hồng Kông cũng phát hành loạt truyện sau phiên bản Đài Loan một tháng, từ tháng 5 năm 1997, và ra mắt tập cuối vào tháng 1 năm 2001.[34][35] Thiên Hạ tái bản manga tương ứng với loạt "ấn bản mới" từ tháng 10 năm 2005 đến tháng 11 năm 2006.[36][37] Năm 2017, bản quyền phát hành Cardcaptor Sakura tại Đài Loan và Hồng Kông được chuyển giao cho Nhà xuất bản Đông Lập, và họ ra mắt ấn bản kỷ niệm 60 năm tạp chí Nakayoshi từ tháng 8 năm đó đến tháng 3 năm 2018 dưới nhan đề Ma pháp sư Clow (庫洛魔法使).[38][39] Phiên bản tiếng Hàn có nhan đề Cardcaptor Cherry (카드캡터체리) được Seoul Munhwasa phát hành đầy đủ ở Hàn Quốc lần đầu tiên từ tháng 3 năm 2000 đến tháng 10 năm 2001,[40][41] sau đó tái bản theo nhan đề gốc từ tháng 5 năm 2006 đến tháng 6 năm 2007.[42][43]Haksan Publishing tiếp quản bản quyền và phát hành loạt truyện ở dạng hợp tuyển dài sáu tập từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 9 năm 2011.[44][45] Tháng 1 năm 2018, họ phát hành giới hạn cả sáu tập này trong một box set đặc biệt có kèm theo chín tấm bưu thiếp là minh họa bìa của các tập Cardcaptor Sakura ấn bản kỷ niệm 60 năm tạp chí Nakayoshi tại Nhật Bản.[46]
Tại Ý, Star Comics lần đầu tiên phát hành 12 tập manga bằng tiếng Ý từ tháng 10 năm 1999 đến tháng 12 năm 2000 dưới ấn hiệu Kappa Extra, và cũng tương tự như lần xuất bản đầu tiên tại Bắc Mỹ, truyện in theo cách đọc kiểu phương Tây. Star Comics sau đó tái bản loạt truyện từ năm 2011 ở khổ giấy A5 với các hiệu chỉnh lời thoại và sắp xếp khung truyện theo thứ tự gốc, được họ gọi là "perfect edition" (ấn bản hoàn hảo).[47][48] Phiên bản tiếng Bồ Đào Nha do JBC xuất bản tại Brasil lấy nhan đề Sakura Card Captors đã chia nhỏ loạt truyện thành 24 tập theo kiểu "nửa" tankōbon, phát hành hai tuần một lần từ năm 2001 đến 2002; đây là tác phẩm đầu tiên của CLAMP ra mắt tại quốc gia này và là một trong các tựa truyện thành công nhất của JBC.[49][50][51] Năm 2012, JBC tái bản manga như một ấn bản đặc biệt kèm trang màu với số tập như nguyên tác, dựa theo loạt "ấn bản mới" ở Nhật Bản.[51][52] Tác phẩm cũng được đăng ký bản quyền phát hành bằng một số ngôn ngữ khác bởi các công ty Pika Édition (tiếng Pháp tại Pháp),[53]EMA (tiếng Đức tại Đức),[54]Glénat España (tiếng Tây Ban Nha tại Tây Ban Nha),[55]Editorial Ivréa (tiếng Tây Ban Nha tại Argentina),[56] Editorial Toukan (tiếng Tây Ban Nha tại México),[57] Vibulkij (tiếng Thái tại Thái Lan),[58]Elex Media Komputindo (tiếng Indonesia tại Indonesia),[59]Sáng Nghệ (tiếng Trung tại Singapore)[60] và Tiếp Lực (tiếng Trung tại Trung Quốc).[61]
Anime[sửa | sửa mã nguồn]
Một chuyển thể anime truyền hình dài 70 tập do Madhouse sản xuất đã phát sóng tại Nhật Bản trên kênh NHK BS2, kéo dài ba mùa.[62][63] Mùa đầu tiên gồm 35 tập, phát sóng từ ngày 7 tháng 4 đến 29 tháng 12 năm 1998.[64][65][66] Mùa hai gồm 11 tập phát sóng từ ngày 6 tháng 4 đến 22 tháng 6 năm 1999.[66][67] Mùa ba gồm 24 tập còn lại phát sóng từ ngày 7 tháng 9 năm 1999 đến 21 tháng 3 năm 2000.[68][69] Được đạo diễn bởi Asaka Morio, bộ phim nhận sự cộng tác tuyệt đối từ phía CLAMP: chủ bút Ohkawa Nanase là người viết kịch bản, còn Mokona chịu trách nhiệm thiết kế trang phục và các thẻ bài. Thiết kế nhân vật trong anime do Takahashi Kumiko thực hiện dựa trên những minh họa nguyên tác của CLAMP. Cô bé Sakura được lồng tiếng bởi nữ seiyū Tange Sakura.[63]Bandai Visual sau đó phát hành bộ anime thành 18 băng VHS, đĩa lade và DVD biên soạn từ tháng 9 năm 1998 đến tháng 5 năm 2000.[70][71][72][73] Ba tập OVA được kèm trong những đĩa phim giới hạn bán ra lần đầu tiên vào các ngày 25 tháng 9 năm 1998 và 25 tháng 9 năm 1999. Bandai Visual sau đó phát hành sáu băng VHS có nội dung rút gọn xê-ri dưới nhan đề Cardcaptor Sakura TV Series Selection từ ngày 25 tháng 4 đến 25 tháng 6 năm 2001, gồm 12 tập phim.[74][75]Geneon Entertainment phát hành ba bộ đĩa DVD từ ngày 1 tháng 4 đến 10 tháng 8 năm 2005.[76][77] Geneon tiếp tục phát hành hai bộ đĩa Blu-ray (BD) vào tháng 3 và tháng 6 năm 2009.[78][79] Sau khi công ty này đổi tên thành Geneon Universal Entertainment, họ tái phát hành giới hạn ba bộ đĩa DVD từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2011[80][81] và ba bộ đĩa BD từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2012.[82][83] Một bộ đĩa BD khác có giá thành rẻ hơn sau khi tổng hợp toàn bộ 70 tập phim bán ra vào tháng 12 năm 2015.[84] Một phiên bản cải tiến 4K được phát hành vào tháng 12 năm 2017 dưới dạng 11 đĩa DVD và BD bởi Warner Bros. Japan. Cả ba tập OVA đều được kèm trong bản phát hành BD mới nhất này.[85][86]
Cũng như với manga, chuyển thể anime của Cardcaptor Sakura qua bản thuyết minh tiếng Việt đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất sớm, nhưng không có bản quyền. Từ năm 2008, TVM Corp. (công ty mẹ của TVM Comics, đơn vị mà về sau đã đăng ký bản quyền phát hành manga tại Việt Nam) cấp phép sản xuất phiên bản lồng tiếng Việt của bộ phim, với vai Sakura do Huyền Chi phụ trách, và phát sóng đầy đủ 70 tập trên kênh xã hội hóa HTV3 thuộc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh.[87][88] Tựa phim được dịch thành Thủ lĩnh thẻ bài, với các ca khúc chủ đề mở đầu và kết thúc phim gốc qua lựa chọn đã được hát lại lời bằng tiếng Việt. Bộ phim tái phát sóng một vài lần sau đó vào các năm 2010, 2012 và 2013;[89][90][91] trong lần tái phát sóng từ ngày 31 tháng 7 năm 2018, như một hệ quả của sự thay đổi doanh nghiệp điều hành kênh, bản quyền của Thủ lĩnh thẻ bài được chuyển giao cho Purpose Media với phần dịch thuật được ghi dưới nhãn Novel Production trong phần danh đề, mặc dù vẫn sử dụng bản lồng tiếng và biên tập cũ.[92][93] Cho đến nay bản lồng tiếng này vẫn không được phát hành dưới dạng băng đĩa. Bộ phim cũng phổ biến tại nhiều nước Đông Nam Á khác từ rất sớm qua các phiên bản địa phương hóa: khoảng năm 2000, anime Cardcaptor Sakura lần đầu tiên ra mắt ở Indonesia trên kênh TPI (nay là MNCTV) với bản lồng tiếng Indonesia do Idola Citra Utama thực hiện, bao gồm các ca khúc mở đầu và kết thúc hát bằng lời Indonesia. Sau đó RCTI tái phát sóng bộ phim vào năm 2003 nhưng giữ nguyên lời gốc của các ca khúc chủ đề.[94] Ở Philippines, anime được ra mắt trên kênh ABS-CBN vào năm 2001;[95] trong khi DEX phát hành 18 đĩa DVD Cardcaptor Sakura từ năm 2005 đến 2007 tại Thái Lan.[96][97]
Cardcaptor Sakura phiên bản Hoa ngữ đã lên sóng nhiều kênh truyền hình ở các quốc gia và vùng lãnh thổ quanh khu vực eo biển Đài Loan, dưới nhiều tên gọi khác nhau, bao gồm Bách Biến Tiểu Anh (百變小櫻) và Ma Tạp Thiếu Nữ Anh (魔卡少女櫻). Phim đã phát sóng trên kênh Tinh Không ở Trung Quốc,[98]CTS và Star TV ở Đài Loan, và từ những năm 2000 trên TVB Jade ở Hồng Kông.[99] Proware Multimedia International đã phát hành 18 đĩa DVD thuyết minh tiếng Trung tại Đài Loan.[100][101] Ở Hàn Quốc, Mun Seon-hui là người lồng tiếng cho Sakura trong phiên bản phát sóng trên kênh SBS từ tháng 6 năm 1999 đến tháng 9 năm 2000;[102][103] một số tập phim đã bị cắt bỏ do không phù hợp với văn hóa Hàn Quốc. Phim lên sóng vào thời điểm chỉ ít lâu sau khi chính phủ Hàn Quốc dỡ bỏ một phần lệnh cấm nhập khẩu các văn hóa phẩm Nhật Bản,[104] và nhanh chóng trở thành chương trình hoạt hình được yêu thích thứ hai ở nước này với tỷ suất khán giả theo dõi đạt 30%.[105][106] Từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2018, kênh Tooniverse tái phát sóng anime với một phiên bản lồng tiếng hoàn toàn mới;[106][107] lần này Jung Yoo-jung vào vai Sakura. Trong cả hai lần phát sóng, phim đều đặt nhan đề Cardcaptor Cherry (카드캡터체리) như tựa của ấn bản manga đầu tiên tại Hàn Quốc, và đều cắt bỏ một số tập phim không tương đồng với văn hóa nước này.
Nelvana cấp phép phân phối phim tại Bắc Mỹ, dùng bản lồng tiếng Anh của Ocean Studios với vai lồng tiếng Sakura được giao cho Carly McKillip, và phát hành dưới nhan đề đề Cardcaptors.[108][109] Bản phim này chịu sự biên tập nặng nề so với nguyên bản tại Nhật Bản: họ và tên của nhiều nhân vật bị thay đổi, một số văn bản tiếng Nhật chuyển thành tiếng Anh, và những tình tiết có thể gây tranh cãi như quan hệ đồng tính bị cắt bỏ. Nhạc nền cũng bị thay thế bằng các bản nhạc hoàn toàn mới và một số hiệu ứng âm thanh cũng bị đổi khi mà không thể tách chúng ra khỏi phần nhạc nền gốc, mặc dù các ca khúc mở đầu và kết thúc đều được hát lại lời bằng tiếng Anh. Bản phim này phát sóng tại Úc trên kênh Network Ten và Cartoon Network, tại Ireland trên RTÉ2,[110] tại Anh Quốc trên CiTV và Nickelodeon, và tại Canada trên Teletoon (kênh này cũng phát sóng các tập phim lồng tiếng Pháp). Một phiên bản lồng tiếng Anh thay thế bởi Omni Productions với Andrea Kwan phụ trách vai Sakura[111] được chiếu trên Animax Asia đã bám rất sát nguyên bản phim mà không trải qua bất kỳ chỉnh sửa nào, về sau phát sóng rộng rãi trên mạng lưới kênh tiếng Anh ở Đông Nam Á và Nam Á.
Cardcaptors lần đầu tiên ra mắt tại Hoa Kỳ trên kênh Kids' WB từ ngày 17 tháng 6 năm 2000 đến 14 tháng 12 năm 2001.[112][113] Trên cơ sở bản lồng tiếng của Nelvana, các tập phim trên Kids' WB thậm chí còn bị biên tập nhiều hơn nữa khi thứ tự phát sóng bị xáo trộn và một số tập không bao giờ lên hình, khiến anime rút ngắn còn 39 tập.[114] Nguyên nhân của sự chỉnh sửa này là xê-ri được tái định hướng vào nhiều phân cảnh hành động hơn để làm thỏa mãn khán giả nam, vì dường như họ là đối tượng xem hoạt hình nhiều nhất vào thời điểm đó.[2] Tập phim đầu tiên phát sóng trên Kids' WB là "Đối thủ của Sakura," vốn là tập thứ tám theo nguyên bản, như vậy đã loại bỏ các sự kiện xoay quanh Sakura trước đó và để phim mở đầu bằng sự xuất hiện của Syaoran.[2][115] Thay vì dùng lời Anh của các ca khúc mở đầu và kết thúc phim gốc như bản phát sóng tại Úc và một số nước khác cũng chiếu phiên bản lồng tiếng của Nelvana, bản phát sóng trên Kids' WB đã dùng một nhạc phẩm đầu phim hoàn toàn mới. Pioneer Entertainment (tiền thân của Geneon), phát hành Cardcaptors lồng tiếng Anh thành chín băng VHS và đĩa DVD biên soạn từ tháng 11 năm 2000 đến tháng 7 năm 2002.[116][117][118][119] Họ cũng phát hành Cardcaptor Sakura chưa qua chỉnh sửa với âm thanh nguyên bản tiếng Nhật kèm phụ đề tiếng Anh[2][114] thành 18 đĩa DVD từ tháng 11 năm 2000 đến tháng 11 năm 2003;[120][121] 11 đĩa phim đầu tiên cũng có bản VHS tương đương.[122][123] DVD của Cardcaptor Sakura đã không còn bán từ cuối năm 2006 sau khi giấy phép của Nelvana mãn hạn. NIS America cấp phép mới bộ phim và tái phát hành toàn bộ xê-ri với song song bản lồng tiếng Nhật gốc và bản lồng tiếng Anh không chỉnh sửa (của Animax Asia) bằng DVD và BD vào ngày 5 tháng 8 năm 2014.[124]
Madman Entertainment cấp phép nguyên bản Cardcaptor Sakura không chỉnh sửa với âm thanh tiếng Nhật và phụ đề tiếng Anh ở Úc và New Zealand,[125] và sau đó phát hành anime thành hai bộ đĩa DVD, bộ đầu tiên ra mắt tháng 9 năm 2012 gồm các tập phim trong mùa một[126] và bộ thứ hai ra mắt tháng 11 cùng năm gồm các tập phim trong mùa hai và ba.[127] Mỗi bộ đĩa kèm theo video mở đầu và kết thúc không có phần danh đề đầu phim; bộ đĩa thứ hai còn chứa đoạn phim phỏng vấn độc quyền với Tange Sakura. Bản lồng tiếng Ý do Merak Film sản xuất đã phát sóng trên kênh Italia 1, như một phần của chương trình thiếu nhi Bim Bum Bam và chia làm hai giai đoạn: mùa một có nhan đề Pesca la tua carta Sakura với 35 tập phim đầu tiên từ tháng 11 năm 1998, và mùa hai có nhan đề Sakura, la partita non è finita với các tập còn lại được chiếu không đầy đủ từ tháng 3 năm 2001.[48][128] Danh ca Cristina D'Avena đã trình bày các nhạc phẩm chủ đề mới dùng trong anime, trong khi vai Sakura được giao cho Renata Bertolas lồng tiếng.[128][129] Bản phát sóng này, cũng như tại nhiều nước khác, bị kiểm duyệt nặng nề: độ tuổi của các nhân vật chính tăng từ 10 lên thành 14 tuổi, và tất cả các mối quan hệ bị xem là "không đúng đắn" đều bị sửa đổi, như tình yêu mà Tomoyo dành cho Sakura được chuyển thành tình bạn thuần túy, hay mối tình giữa Rika và Terada được biên tập theo hướng tương tự như cách mà Sakura bị thu hút bởi Mizuki.
Tại Pháp, thoạt đầu bản quyền phân phối anime dưới nhan đề Sakura, Chasseuse de Cartes sở hữu bởi IDP Home Video Music. Bản lồng tiếng Pháp do Chinkel thực hiện với vai lồng tiếng Sakura được giao cho Patricia Legrand, phát sóng lần đầu tiên trên kênh truyền hình trả phí Fox Kids từ ngày 4 tháng 9, 1999 và sau đó là miễn phí trên M6 từ ngày 31 tháng 1 năm 2001.[130] 35 tập phim đầu tiên được Dynamic Visions phát hành thành năm băng VHS theo tiêu chuẩn truyền hình màu SECAM vào năm 2001.[130][131][132] M6 Vidéo sau đó phát hành anime mùa một thành bốn đĩa DVD vào ngày 29 tháng 10 năm 2003,[130][132] tuy nhiên các tập phim bị xáo trộn thứ tự và không đầy đủ, rút ngắn chỉ còn 24 tập. Tháng 4 năm 2004, IDP phát hành tiếp nối các tập phim mùa ba trong một bộ ba đĩa DVD, đồng thời giới thiệu lại một số tập phim bị thiếu trong bản phát hành trước đó của M6 Vidéo.[133][134] IDP phát hành hoàn chỉnh mùa hai trong một bộ ba DVD vào tháng 2 năm 2005,[135] và tái phát hành lần lượt mùa ba và mùa một (lúc này được quảng cáo như một phiên bản đặc biệt – "Edition Prémium") từ tháng 3 năm 2005 đến tháng 3 năm 2006 thì hoàn tất với tổng cộng 12 DVD chia đều trong bốn bộ đĩa;[134][136][137][138][139] các đĩa phim này tích hợp song song phiên bản lồng tiếng Pháp lẫn bản lồng tiếng Nhật gốc có phụ đề Pháp ngữ. Một box set tổng hợp trọn bộ 70 tập phim trong 15 DVD kèm booklet dày 40 trang chứa nhiều thông tin sản xuất và minh họa từ CLAMP được IDP phát hành vào ngày 23 tháng 11 năm 2006.[140] IDP tái phát hành hai box set khác gọi là "Edition Collector" vào ngày 9 tháng 7 năm 2009; bộ đĩa đầu tiên gồm sáu DVD chứa toàn bộ 35 tập phim trong mùa một,[141] và bộ đĩa thứ hai gồm chín DVD chứa các tập còn lại trong mùa hai và ba.[142] Trọn bộ "Edition Collector" này tái ra mắt trong một box set DVD duy nhất vào ngày 10 tháng 12 năm 2012.[143] Sau khi bản quyền phát hành Cardcaptor Sakura tại Pháp chuyển giao cho Black Box, công ty này phát hành một box set sáu đĩa BD với chất lượng cải tiến vào ngày 11 tháng 7 năm 2018;[144] trong bộ còn kèm CD nhạc nền của anime và nhiều sách tranh đặc biệt khác.[145]
Phiên bản lồng tiếng Đức với vai Sakura do Manja Doering phụ trách đã phát sóng lần đầu tiên trên kênh Fox Kids từ ngày 5 tháng 4 năm 2003, và sau đó trên ProSieben từ ngày 11 tháng 10 cùng năm.[146]Universum Anime cấp phép phát hành 24 tập phim đầu tiên tại Đức trong sáu đĩa DVD từ tháng 11 năm 2005 đến tháng 10 năm 2006.[147]Cardcaptor Sakura có hai phiên bản lồng tiếng Tây Ban Nha lần lượt phân phối ở Tây Ban Nha (bởi Arait Multimedia) và ở México (bởi Intertrack). Phim cũng được chiếu tại vùng Catalunya của Tây Ban Nha trên Canal 33 từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2000.[148] Bản lồng tiếng Tây Ban Nha ở México và một số nước Mỹ Latinh do Cloverway Inc. cấp phép; phim được phát sóng rộng rãi trên mạng lưới kênh Cartoon Network và Boomerang, đồng thời được tiếp sóng bởi hàng loạt kênh truyền hình địa phương trong khu vực. Cloverway cũng cấp phép bản lồng tiếng Bồ Đào Nha ở Brasil với vai Sakura do Daniela Piquet lồng tiếng, phát sóng trên kênh Rede Globo vào năm 2000.[51][149] Tại Bồ Đào Nha, phim phát sóng trên các kênh RTP1 và RTP2 từ năm 2001 đến 2003; sau năm 2003 phim phát sóng trên Canal Panda và đến năm 2010 thì chuyển sang Panda Biggs.[150]Cardcaptor Sakura cũng từng được phát sóng trên kênh Yorin của Hà Lan với bản lồng tiếng địa phương,[151] trong đó Jann Cnossen phụ trách vai Sakura. Tại Thụy Điển, phim phát sóng trên kênh SVT B từ tháng 12 năm 2004 với sự cộng tác biên dịch của Simon Lundström.[152]
Phim[sửa | sửa mã nguồn]
Madhouse đã sản xuất hai bộ phim anime điện ảnh cho Cardcaptor Sakura, mỗi bộ dài 82 phút mở rộng thêm cốt truyện của xê-ri anime truyền hình. Bộ phim đầu tiên, Gekijōban Cardcaptor Sakura, công chiếu vào ngày 21 tháng 8 năm 1999.[153] Lấy bối cảnh giữa mùa một và mùa hai của anime truyền hình, truyện phim kể về chuyến đi Hồng Kông của Sakura và bạn bè, nơi mà họ đã gặp một linh hồn từng bị Clow Reed làm tổn thương. Bandai Visual đã phát hành phim dưới dạng VHS, LD và DVD tại Nhật Bản vào tháng 2 năm 2000.[154][155] Nelvana cấp phép phiên bản lồng tiếng Anh của bộ phim, tiếp tục đổi tên nhân vật và thay đổi cốt truyện như với Cardcaptors, mặc dù đã không can thiệp vào hình ảnh. Cũng như phiên bản truyền hình, Pioneer Entertainment phát hành bản phim với âm thanh nguyên gốc tiếng Nhật và phụ đề tiếng Anh, và cũng phát hành một DVD song ngữ hai bản lồng tiếng. Cả hai phiên bản có và không có chỉnh sửa của phim được phát hành thành VHS và DVD vào tháng 3 năm 2002 ở Bắc Mỹ.[156][157]
Bộ phim thứ hai, Gekijōban Cardcaptor Sakura: Fuuin Sealed Card, công chiếu tại Nhật Bản vào ngày 15 tháng 7 năm 2000;[158] Phim là đoạn kết hoàn chỉnh của xê-ri anime truyền hình, khi Syaoran trở về Tokyo mang theo hy vọng nhận được câu trả lời của Sakura sau lần tỏ tình trước đó, nhưng nỗi lòng của Sakura bị cản trở do sự xuất hiện của thẻ bài Clow thứ 53. Phim được phát hành thành LD (phiên bản giới hạn) và DVD vào tháng 1 năm 2001, và VHS vào tháng 7 năm 2001.[159][160] Pioneer phát hành DVD phim tại Bắc Mỹ vào tháng 11 năm 2003 với bản lồng tiếng Anh do Bang Zoom! Entertainment thực hiện thay vì Nelvana và Ocean Studios, lần này với Kari Wahlgren vào vai Sakura, và giữ nguyên tên các nhân vật cũng như không cắt bỏ hay chỉnh sửa bất kỳ nội dung gì.[161][162] Cả hai bộ phim nhựa này vẫn được bán tại Bắc Mỹ cho đến khi Pioneer (về sau đổi tên thành Geneon) ngừng phân phối trực tiếp vào mùa thu năm 2007;[163] và cả hai đều được Discotek Media tái phát hành DVD và BD lần lượt vào các năm 2014 và 2018.[164][165][166] Phần phim ngắn Kero-chan ni Omakase! được chiếu thêm trong cảnh hậu danh đề của bộ phim thứ hai.[167]
CD nhạc[sửa | sửa mã nguồn]
Để giới thiệu cho bộ anime chiếu trên truyền hình, Kodansha đã phát hành một đĩa CD dạng tankōbon với tựa đề CD Comic Cardcaptor Sakura vào tháng 8 năm 1997, chứa hai đĩa nhạc hình về các nhân vật do hai diễn viên lồng tiếng của Sakura và Tomoyo trình bày, cùng một bài nhạc kịch[168]. Hai đĩa drama CD dành cho sê-ri phim cũng được ra mắt. Đĩa thứ nhất, mang tựa Sakura to Okaa-san no Organ, phát hành vào tháng 7 năm 1998 chứa một kịch bản được viết bởi Ohkawa Nanase, đồng tác giả của tác phẩm[169]. Nội dung mô tả giấc mơ của Sakura về mẹ cô đang chơi đàn organ và đang suy nghĩ viết một dự thảo học đường cho ngày hôm sau của bà. Đĩa CD thứ hai, với tên Sweet Valentine Stories, ra mắt trong tháng 2 năm 1999, mô tả một ngày sinh hoạt bình thường của những bạn nữ trong lớp Sakura, bao gồm chính cô[170]. Bốn album CD chứa những bản nhạc gốc trong loạt phim truyền hình được phát hành từ tháng 7 năm 1998 đến tháng 3 năm 2000[171][172]. Soundtrack này chứa các bản phối khí nhạc nền và các ca khúc chủ đề có lời trong phim. Hai soundtrack khác được sản xuất dành riêng cho hai bộ phim nhựa: soundtrack của bộ phim đầu tiên phát hành vào tháng 8 năm 1999, soundtrack của bộ phim thứ hai ra mắt trong tháng 8 năm 2000[173][174].
Chín đĩa đơn cho các ca khúc chủ đề trong anime đã được phát hành, trong đó sáu đĩa dành cho phim truyền hình và ba đĩa dành cho loạt phim nhựa. Ba đĩa đơn chứa các ca khúc chủ đề mở đâu của sê-ri anime truyền hình gồm: "Catch You Catch Me", do Gumi trình bày, phát hành vào tháng 4 năm 1998; "Tobira o Akete" (扉をあけて) do Anza trình bày, phát hành vào tháng 4 năm 1999; và "Platinum" do Sakamoto Maaya thực hiện, ra mắt trong tháng 10 năm 1999[175][176][177]. Ba đĩa chứa các ca khúc chủ đề kết thúc là: "Groovy!" của Hirose Kohmi, phát hành vào tháng 9 năm 1998; "Honey" của Chihiro, ra mắt trong tháng 5 năm 1999; và "Fruits Candy" do Kojima Megumi trình bày, phát hành vào tháng 11 năm 1999[178][179][180]. Hai đĩa đơn chứa các ca khúc chủ đề kết thúc của hai phim nhựa là: "Tōi Kono Machi de" (遠いこの街で) do Kaitani Naomi trình bày trong bộ phim đầu tiên, phát hành vào tháng 8 năm 1999; và "Ashita e no Melody" (明日へのメロディー) của Chaka trong bộ phim thứ hai, phát hành vào tháng 7 năm 2000[181][182]. Đĩa đơn chủ đề cuối cùng là dành cho phụ phim ngắn Leave It To Kero! mang tên "Okashi no Uta" (おかしのうた), ra mắt trong tháng 7 năm 2000[183].
Sáu đĩa đơn nhạc hình về các nhân vật với giọng ca của những diễn viên lồng tiếng cho Sakura, Toya, Kerberos, Tomoyo, Yukito và Syaoran được phát hành vào tháng 6 năm 1998; mỗi đĩa có kèm theo một đoạn nhạc kịch ngắn[184][185][186][187][188][189]. Một album nhạc hình về các nhân vật mang tựa Cardcaptor Sakura Character Songbook cũng đã ra mắt vào tháng 1 năm 1999, gồm những bài nhạc hình đã được phát hành trước đây cũng như những bản nhạc mới do nhiều ca sĩ khác nhau trình bày[190]. Một album khác lấy tên Tomoeda Elementary Choir Club Christmas Concert, phát hành trong tháng 12 năm 1999, gồm bảy bài hát hợp xướng giọng thiếu nhi, trong đó năm bài có sự tham gia của Iwao Junko, nữ diễn viên lồng tiếng cho Tomoyo[191]. Một tập hợp bốn đĩa CD biên soạn, Complete Vocal Collection, đã phát hành trong tháng 2 năm 2001, chứa những ca khúc chủ đề trong các phiên bản anime, các bản nhạc hình về nhân vật, các bản remix (phối lại) từ những bài đã phát hành trước đó và những bài hát mới[192]. Một album nữa tập hợp các ca khúc chủ đề của sê-ri anime truyền hình và phim nhựa có tựa Cardcaptor Sakura Theme Song Collection đã ra mắt trong tháng 12 năm 2001[193]. Victor Entertainment là công ty phát hành toàn bộ các album và đĩa đơn của Cardcaptor Sakura tại Nhật Bản. Ở Bắc Mỹ, vào tháng 9 năm 2001, Rhino Entertainment đã cho ra mắt đĩa soundtrack gốc của phiên bản anime lồng tiếng Anh Cardcaptors lấy tựa Cardcaptors titled Cardcaptors: Songs from the Hit TV Series[194].
Trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]
Mười trò chơi điện tử đã được sản xuất dựa trên tác phẩm, chơi trên nhiều hệ máy console cầm tay khác nhau. Các game được chia thành nhiều thể loại, như phiêu lưu hay nhập vai. Trò chơi đầu tiên ra mắt tại Nhật Bản vào ngày 15 tháng 5 năm 1999 là Cardcaptor Sakura: Itsumo Sakura-chan to Issho![195]; và game mới nhất tính đến nay là Cardcaptor Sakura: Sakura-chan to Asobo!, phát hành ngày 2 tháng 12 năm 2004[196][197].
Sản phẩm khác[sửa | sửa mã nguồn]
Kōdansha xuất bản sáu quyển artbook cho loạt manga và công nghệ tạo hình trong phim truyền hình do nhà thiết kế nhân vật Takahashi Kumiko minh họa[2]. Ba ấn bản dành cho manga có tựa đề Cardcaptor Sakura Illustration Collection, phát hành từ tháng 8 năm 1998 đến tháng 12 năm 2000[209][210], và ba quyển cho anime mang tên Cheerio!, phát hành từ tháng 4 năm 1999 đến tháng 10 năm 2000[211][212]. Một bộ bài Clow gồm 52 lá trong anime được phát hành vào tháng 8 năm 1999; và quyển Clow Card Fortune Book, hướng dẫn cách xem bói bằng bài Clow tương tự như cỗ bài tarot, ra mắt vào tháng 3 năm 2000[213][214]. Một cuốn sách dành cho người hâm mộ manga mang tựa Cardcaptor Sakura Memorial Book đã được xuất bản vào tháng 2 năm 2001, chứa nhiều hình minh họa khác nhau của tác phẩm, cũng như thông tin về những mặt hàng thương mại kèm theo những bài phỏng vấn[215]. Bốn quyển sách tương tự, mang tựa chung là "Complete Book", được chia làm hai phần: phiên bản dành cho bộ anime truyền hình phát hành trong tháng 7 năm 1999 và tháng 6 năm 2000, phiên bản dành cho hai bộ phim nhựa phát hành vào tháng 10 năm 1999 và tháng 10 năm 2000[216][217][218][219].
Mười tập truyện anime (manga sử dụng các hình ảnh trong anime) được phát hành từ tháng 8 năm 1998 đến tháng 11 năm 2000, có nội dung bao gồm hai phần đầu của bộ anime truyền hình, tuy nhiên một số tập phim đã bị lược bỏ[220][221]. Ba tập tiếp theo được xuất bản từ tháng 3 năm 2001 đến tháng 2 năm 2002, chứa nội dung đến tập phim thứ 59, và vẫn có một vài tập phim bị lược bớt[222][223]. Bốn quyển sách hình nói về loạt phim truyền hình đã được phát hành từ tháng 9 năm 1998 đến tháng 11 năm 2000[224][225]. Cuối cùng là bốn tập sách nhãn dán dành cho anime truyền hình, ra mắt từ tháng 8 năm 1999 đến tháng 3 năm 2004[226][227].
Manga[sửa | sửa mã nguồn]
Manga Cardcaptor Sakura ngay từ lần đầu tiên ra mắt đã trở nên nổi tiếng với bạn đọc người Nhật, tác phẩm được xếp trong tốp năm bộ truyện bán chạy nhất trong thời gian phát hành[228]. Loạt manga đã được Seiun Award trao giải Manga xuất sắc nhất năm 2001[229]. Shaenon Garrity của tạp chí Mỹ The Comics Journal đã ca ngợi bộ truyện là tinh hoa của thể loại shōjo, khen cách xây dựng tình huống ngày càng trưởng thành hơn trong nửa sau của cốt truyện[230]. Cardcaptor Sakura được mô tả như một "tác phẩm tối quan trọng" bởi Christopher Butcher, tác giả của trang Comics212[230]. Trong một bài bình luận của Lisa Anderson trên Manga Life, những mục đích phụ đan xen trong cốt truyện mô tả các mối quan hệ của con người đã nhận được sự quan tâm đặc biệt. Anderson ca ngợi cách manga thể hiện trang phục của Sakura trong cảnh cô truy bắt thẻ bài Clow ngay ở phần mở đầu, đã "đi một bước nhảy ở chiều hướng khác" khi chú trọng vào các nhân vật. Tác phẩm cũng được khen ngợi về chiều sâu kịch bản[231]. Nhà phân tích Robert Nguyen tại Anime News Network (ANN) cảm thấy Cardcaptor Sakura là một đại diện "điển hình cho shōjo" manga, trong đó "nhấn mạnh vào thể hiện cảm xúc của nhân vật[232]".
Trong cuốn Manga: The Complete Guide, Mason Templar trịnh trọng tuyên bố rằng sê-ri này "không những là một trong những manga hay nhất nhất dành cho thiếu nhi được biên dịch, mà còn là một trong những tác phẩm manga xuất sắc nhất có bản Anh ngữ, chấm hết". Ông khen ngợi nhóm CLAMP vì sự sáng tạo cũng như khả năng nghề nghiệp sắc sảo của họ, khi đã tạo ra một tác phẩm mà "chắc hẳn sẽ có hàng loạt sản phẩm thương mại chuyển thể" và có tiền đề "cực kỳ dễ quên" vào một cốt truyện "tràn đầy niềm vui ấm áp cùng sự ngạc nhiên", điều đó "mang lại nhiều ý nghĩa hơn những gì mà nó chứa đựng[5]". Các nhà phê bình đã chỉ ra những điểm đáng yêu của manga, và trong một số trường hợp là quá dễ thương[232]; tuy nhiên, Anderson nhận xét nó "hệt như Magic Knight Rayearth, ngay cả với một cốt truyện dễ thương cũng giàu chiều sâu và cảm xúc.[231]" Nét vẽ của manga cũng được khen ngợi vì chi tiết và "hình các thẻ bài Clow được minh họa rất đẹp". Các thẻ bài được mô tả là "sự khéo léo pha trộn giữa thế giới ảo tưởng đầy mơ mộng và hiện thực cuộc sống".[232]
Tính đến tháng 9 năm 2017, bộ sê-ri manga Cardcaptor Sakura đã bán hơn 16,8 triệu bản in, bao gồm 1,5 triệu bản in của phần thứ 3.[233]
Anime[sửa | sửa mã nguồn]
Chuyển thể anime cũng đã rất nổi tiếng với khán giả Nhật Bản, mặc dù có một khoảng thời gian lượng người xem giảm đi[2]. Bộ anime Cardcaptor Sakura đã đoạt được giải thưởng Animage Grand Prix với danh hiệu Anime Xuất sắc nhất năm 1999[234]. Tháng 5 năm 2000, anime tập 8 và 17 trên phiên bản đĩa LD (Laserdisc) được phát hành và trở thành một trong những tên tuổi bán chạy nhất; đĩa 17 được xếp ở vị trì đầu bảng xếp hạng[235]. DVD tập 18 nằm trong tốp 8 đĩa DVD anime bán chạy nhất ở Nhật vào tháng 6 năm 2000[2]. Cộng tác viên Kevin Law của tạp chí Mỹ Animerica chuyên về anime và manga cảm thấy rằng loạt phim mang một "ý nghĩa thiết kế rất tinh vi", từ đó cho phép tác phẩm vượt qua mục tiêu ban đầu vốn dành cho trẻ nhỏ vì ngay cả những khán giả lớn tuổi hơn cũng bị chinh phục[236]. Cộng tác viên Oshiguichi Takashi khám phá ra sức quyến rũ của Sakura và biểu dương phong cách nghệ thuật của phim. Ông nhận xét rằng dù phim đã được "tính toán rất kĩ lưỡng" nhằm thu hút những khán giả nam, nhưng nó vẫn nhận được sư yêu mến từ nhiều đối tượng người hâm mộ nhờ vào "phong cách giải trí độc đáo" của CLAMP kết hợp với "thời điểm xuất hiện hoàn hảo của "những nhân vật phản diện đầy sức hấp dẫn" và sự khác thường trong việc thay đổi trang phục của nhân vật chính sau mỗi cảnh mới". Tạp chí của Winnie Chow đánh giá pha phim hoạt hình này "đã vượt trội hơn những bộ phim chiếu trên tivi", và khen ngợi những cảnh biểu diễn phép thuật của Sakura gần như là độc nhất bởi sự thay đổi trang phục thường xuyên của cô[237].
Zac Bertschy của ANN đánh giá cao Cardcaptor Sakura khi đã tái hiện tốt thể loại mahō shōjo vốn "được lặp đi lại quá nhiều lần và xưa cũ một cách đáng kinh ngạc", hơn thế nữa nó mang lại "cảm giác vui nhộn, khéo léo, đầy sức sống tươi đẹp, cảm động và hấp dẫn cùng một lúc"; Bertschy đã gọi sê-ri này là một "màn biểu diễn của cô gái có phép thuật tuyệt vời nhất từng được tạo ra"[238]. Anime được mô tả là "cực kỳ linh động" với các nhân vật được thiết kế "duy trì một mức độ chi tiết kiên định và ấn tượng, ngay cả trong những cảnh hành động[238]". Bộ anime cũng được xem là làm theo kiểu mẫu xưa, nhưng điều này không hề làm giảm đi sức lôi cuốn[239][240][241]. Mặc dù đối tượng chính của Cardcaptor Sakura thường là những cô bé trẻ tuổi, bộ phim được ca ngợi là chứa đựng "những yếu tố mà ai cũng sẽ thích, dù là ở tuổi tác hay giới tính nào, miễn là họ có một tâm hồn cởi mở[239]".
Phiên bản anime lồng tiếng Anh Cardcaptors trên kênh Kids' WB đã phải chịu sự chê trách thậm tệ, nó được nhận xét là "điều tồi tệ nhất từng xảy ra cho một anime có tên tuổi ở Nhật Bản[242]", và "không có mục đích nào khác hơn là cố gắng pha loãng một anime được nhiều người ưa thích[115]". Phần lồng tiếng được ghi nhận là "một trong những yếu tố tệ hại nhất nếu không muốn nói là bản lồng tiếng tệ hại nhất từng được dùng trong một chương trình[242]", những giọng lồng tiếng bị chê là "không thể nào sánh ngang được với bản gốc[115]". Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng diễn viên Carly McKillip lồng tiếng cho Sakura và Alyn Faber trong vai Syaoran là "những giọng nói duy nhất thực sự tỏa sáng trong toàn bộ sê-ri[115]". Những chỉnh sửa của Nelvana đã bị chỉ trích là "vô lý" và việc cắt đi đoạn giới thiệu quan trọng của nhân vật đã khiến cho cốt truyện trở nên khó hiểu[115][242].
Tháng 1 năm 2002, chuỗi nhà hàng Taco Bell tiến hàng một tháng ròng khuyến mại bốn trò chơi Cardcaptors có sẵn trong các suất ăn dành cho trẻ em của họ và công ty dự kiến sẽ phân phối lên đến 7 triệu món đồ chơi trong tháng[243]. American Family Association, được miêu tả là một tổ chức "chính trị Thiên chúa giáo cánh hữu", đã đưa ra lời phàn nàn về đợt khuyến mại này vì tổ chức cảm thấy các thẻ bài Clow trong tác phẩm quá giống bài tarot và thần thoại phương Đông. Tuy nhiên, lời khiếu nại vẫn không được đưa ra cho đến khi chương trình khuyến mại kết thúc như dự định, vì vậy không rõ những phát ngôn của tổ chức này gây ảnh hưởng như thế nào.[244]
- ^ Pineda, Rafael Antonio (26 tháng 4 năm 2016). “New Cardcaptor Sakura Manga Is Sequel Launching in June” [Manga Cardcaptor Sakura mới là một phần tiếp theo sẽ ra mắt vào tháng 6] (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2016.
- ^ a ă â b c d đ e ê “Anime Radar: News”. Animerica (bằng tiếng Anh) (San Francisco, California: Viz Media) 8 (10): 32. Tháng 11 năm 2000. ISSN 1067-0831. OCLC 27130932.
- ^ a ă â b CLAMP (Tháng 2 năm 2001). カードキャプターさくらメモリアルブック [Cardcaptor Sakura Memorial Book] (bằng tiếng Nhật). Kōdansha. tr. 146–151. ISBN 978-4-0632-4535-6.
- ^ Cavallaro, Dani (2012). “Epic Reinventions”. CLAMP in Context: A Critical Study of the Manga and Anime (bằng tiếng Anh). North Carolina và Luân Đôn: McFarland & Company. tr. 64. ISBN 978-0-7864-9010-3.
- ^ a ă â Thompson, Jason (ngày 9 tháng 10 năm 2007). Manga: The Complete Guide (bằng tiếng Anh). New York, New York: Del Rey Books. tr. tr.43–44. ISBN 978-0-345-48590-8. OCLC 85833345.
- ^ Solomon, Charles (ngày 28 tháng 11 năm 2006). “Four Mothers of Manga Gain American Fans With Expertise in a Variety of Visual Styles” (bằng tiếng Anh). The New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら(1) [Cardcaptor Sakura (1)] (bằng tiếng Nhật). Kōdansha. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2014.
- ^ カードキャプターさくら(12) [Cardcaptor Sakura (12)] (bằng tiếng Nhật). Kōdansha. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2014.
- ^ カードキャプターさくら 新装版(1) [Cardcaptor Sakura Ấn bản mới (1)] (bằng tiếng Nhật). Kōdansha. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら 新装版(12)<完> [Cardcaptor Sakura Ấn bản mới (12) <Hết>] (bằng tiếng Nhật). Kōdansha. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ なかよし60周年記念版 カードキャプターさくら(1) [Phiên bản kỷ niệm 60 năm Nakayoshi: Cardcaptor Sakura (1)] (bằng tiếng Nhật). Kōdansha. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018.
- ^ なかよし60周年記念版 カードキャプターさくら(9)<完> [Phiên bản kỷ niệm 60 năm Nakayoshi: Cardcaptor Sakura (9) <Hết>] (bằng tiếng Nhật). Kōdansha. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018.
- ^ なかよし60周年記念版 カードキャプターさくら(9)特装版 [Phiên bản kỷ niệm 60 năm Nakayoshi: Cardcaptor Sakura (9) Ấn bản đặc biệt] (bằng tiếng Nhật). Kōdansha. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018.
- ^ “Cô Bé Hoa Anh Đào - Tập 1 (Sakura Cô Bé Pháp Sư)”. Nhà sách Minh Khai. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ Hạ Thị Lan Phi (2002). “Sự du nhập và ảnh hưởng của Manga ở Việt Nam hiện nay” (PDF). Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á (Hà Nội: Viện Nghiên Cứu Đông Bắc Á) 2 (72): tr. 56–62. ISSN 0868-3646. OCLC 666891195 – qua Thư viện Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu.
- ^ Emily (7 tháng 11 năm 2016). “Những nữ chiến binh vừa xinh vừa ngầu gắn với tuổi thơ các 9x”. VietNamNet. Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2017.
- ^ “Cardcaptor Sakura Tập 1”. T.A Books Publishing. Bản gốc lưu trữ 8 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2017.
- ^ “Cardcaptor Sakura - Tập 1”. Pibook. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Cardcaptor Sakura - Tập 12”. Pibook. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ Kandy K (15 tháng 1 năm 2015). “Tổng kết lễ trao giải thưởng truyện tranh xuất bản năm 2014”. GameK. VCCorp. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2018.
- ^ カードキャプターさくら―バイリンガル版 (1) [Cardcaptor Sakura Bilingual Edition (1)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018.
- ^ カードキャプターさくら―バイリンガル版 (6) [Cardcaptor Sakura Bilingual Edition (6)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018.
- ^ “Kodansha to Publish, Sell Manga in U.S. in September” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 1 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2009.
- ^ “Cardcaptor Sakura 1” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura: Master of the Clow, Book 6” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura (Boxed Set, Collection 1)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura: Boxed Set Volumes 4-6: Special Collector's Edition” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura: Master of the Clow (Manga)” (bằng tiếng Anh). Madman Entertainment. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura Omnibus Vol. 1 TPB” (bằng tiếng Anh). Dark Horse Comics. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura Book 4 TPB” (bằng tiếng Anh). Dark Horse Comics. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2012.
- ^ 庫洛魔法使 SAKURA 01 (bằng tiếng Trung). Hiệu sách Tam Dân. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ 庫洛魔法使SAKURA 12(完) (bằng tiếng Trung). Công ty cổ phần hữu hạn Thành Phẩm. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ “01 Clamp” (bằng tiếng Trung). Nhà xuất bản Trưởng Hồng. Bản gốc lưu trữ 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ CardCaptor櫻 1 (bằng tiếng Anh). aNobii. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ Card Captor櫻 12 (bằng tiếng Anh). aNobii. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ CARDCAPTOR櫻 1 (bằng tiếng Anh). aNobii. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Cardcaptor Sakura (The Refurbishment Version) (Vol.12) (End)” (bằng tiếng Anh). YesAsia. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ 庫洛魔法使 愛藏版《1+2首刷盒裝版》 (bằng tiếng Trung). Nhà xuất bản Đông Lập. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ 庫洛魔法使 愛藏版 (bằng tiếng Trung). Nhà xuất bản Đông Lập. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ 카드캡터체리 1 [Cardcaptor Cherry 1] (bằng tiếng Hàn). Kyobo Book Centre. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2018.
- ^ 카드캡터체리 12 [Cardcaptor Cherry 12] (bằng tiếng Hàn). Kyobo Book Centre. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2018.
- ^ 카드캡터 사쿠라. 1 [Cardcaptor Sakura. 1] (bằng tiếng Hàn). Kyobo Book Centre. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2018.
- ^ 카드캡터 사쿠라. 12 [Cardcaptor Sakura 12] (bằng tiếng Hàn). Kyobo Book Centre. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2018.
- ^ 카드캡터 사쿠라 애장판 1권 [Cardcaptor Sakura "Aizōban" tập 1] (bằng tiếng Hàn). Haksan Publishing. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2018.
- ^ 카드캡터 사쿠라 애장판 6권 [Cardcaptor Sakura "Aizōban" tập 6] (bằng tiếng Hàn). Haksan Publishing. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2018.
- ^ [한정판매] 카드캡터 사쿠라 애장판 박스세트 [[Phiên bản giới hạn] Cardcaptor Sakura Boxset] (bằng tiếng Hàn). Interpark. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Card Captor Sakura - 1” (bằng tiếng Italy). Star Comics. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă Perrelli, Terry (28 tháng 9 năm 2011). “Card Captor Sakura, in arrivo la perfect edition”. FantasyMagazine (bằng tiếng Italy). Delos Books. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Sakura Card Captors”. Mangás JBC (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Editora JBC. Bản gốc lưu trữ 28 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ FabioLuz (27 tháng 12 năm 2016). “Definido o nome da responsável pelo roteiro da adaptação para anime de CardCaptor Sakura: Clear Card-hen” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Crunchyroll. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ a ă â “Card Captor Sakura - Edição Especial” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Editora JBC. 31 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Card Captor Sakura”. Mangás JBC (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Editora JBC. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Card Captor Sakura” (bằng tiếng Pháp). Pika Édition. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Card Captor Sakura” (bằng tiếng Đức). Egmont Manga & Anime. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Glènat España. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Sakura card captor” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Librosar. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Sakura Card Captors” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Animexis. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
- ^ การ์ดแค็ปเตอร์ ซากุระ (12 เล่มจบ) (bằng tiếng Thái). Plazacool. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2015.
- ^ “Cardcaptor Sakura 1 (Komik Bekas)” (bằng tiếng Indonesia). Angelzon.com. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
- ^ 132. 库洛魔法使 CARDCAPTOR SAKURA (bằng tiếng Trung). Nhà xuất bản Sáng Nghệ. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
- ^ 中国コンテンツ市場調査(6分野) [Nghiên cứu thị trường nội dung tại Trung Quốc (6 lĩnh vực)] (PDF) (bằng tiếng Nhật). Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản. Tháng 3 năm 2008. tr. 122. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2018.
- ^ これまでのストーリー [The Story So Far] (bằng tiếng Nhật). Madhouse. Bản gốc lưu trữ 5 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010.
- ^ a ă スタッフ&キャスト [Staff & Cast] (bằng tiếng Nhật). NHK. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら <新>「さくらと不思議な魔法の本」 [Cardcaptor Sakura (New) "Sakura and the Mysterious Magic Book"] (bằng tiếng Nhật). NHK. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2014.
- ^ カードキャプターさくら <終>「さくらのすてきなクリスマス」 [Cardcaptor Sakura (End) "Sakura's Wonderful Christmas"] (bằng tiếng Nhật). NHK. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2014.
- ^ a ă “第2回 「最長のTVシリーズ作品は?」” [Round 2: What Are Your Longest TV Series?] (bằng tiếng Nhật). Madhouse. Bản gốc lưu trữ 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら 「さくらと最後の審判」 [Cardcaptor Sakura "Sakura and the Final Judgment"] (bằng tiếng Nhật). NHK. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2014.
- ^ カードキャプターさくら 「さくらと不思議な転校生」 [Cardcaptor Sakura "Sakura and the Mysterious Transfer Student"] (bằng tiếng Nhật). NHK. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2014.
- ^ カードキャプターさくら <終> 「さくらと本当の想い」 [Cardcaptor Sakura (End) "Sakura and Her True Feelings"] (bằng tiếng Nhật). NHK. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2014.
- ^ カードキャプターさくら Vol.1 (VHS) [Cardcaptor Sakura Vol. 1 (VHS)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら18 [Cardcaptor Sakura 18] (bằng tiếng Nhật). Tsutaya. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら Vol.1 (DVD) [Cardcaptor Sakura Vol. 1 (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら Vol.18 (DVD) [Cardcaptor Sakura Vol. 18 (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら テレビシリーズセレクション(1) (VHS) [Cardcaptor Sakura TV Series Selection (1) (VHS)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら テレビシリーズセレクション(6) (VHS) [Cardcaptor Sakura TV Series Selection (6) (VHS)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら DVD-BOX 1 [Cardcaptor Sakura DVD-BOX 1] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら DVD-BOX 3 [Cardcaptor Sakura DVD-BOX 3] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら ―クロウカード編― BOX (期間限定生産) (Blu-ray) [Cardcaptor Sakura Clow Card Arc BOX (limited production) (Blu-ray)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら ―さくらカード編― BOX (期間限定生産) (Blu-ray) [Cardcaptor Sakura Sakura Card Arc BOX (limited production) (Blu-ray)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら SET1 〈期間限定生産〉 [DVD] [Cardcaptor Sakura SET1 <Limited Production> [DVD]] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018.
- ^ カードキャプターさくら SET3 〈期間限定生産〉 [DVD] [Cardcaptor Sakura SET3 <Limited Production> [DVD]] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018.
- ^ カードキャプターさくら Blu-ray BOX1 (初回限定生産) [Cardcaptor Sakura Blu-ray BOX1 <Limited Production>] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018.
- ^ カードキャプターさくら Blu-ray BOX3 (初回限定生産) [Cardcaptor Sakura Blu-ray BOX3 <Limited Production>] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018.
- ^ カードキャプターさくら Blu-ray BOX [Cardcaptor Sakura Blu-ray BOX] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018.
- ^ “See How "Cardcaptor Sakura" Anime Visuals are Upgraded in 4K Scan Remastered Edition” (bằng tiếng Anh). Crunchyroll. 28 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2018.
- ^ “Blu-ray BOX & DVD BOX”. Cardcaptor Sakura Official Web Site (bằng tiếng Nhật). Kōdansha. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Thủ Lĩnh Thẻ Bài”. HTV3 Online. Công ty Cổ Phần Truyền Thông Trí Việt. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018.
- ^ Huyền Chi (17 tháng 9 năm 2018). DVLT Huyền Chi: "Nghề lồng tiếng không bạc như mọi người vẫn nghĩ" phần 1. Vivo.vn. (Phỏng vấn). Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Thủ Lĩnh Thẻ Bài (30 phút x 35 tập)”. HTV3 Online. TVM Corp. Bản gốc lưu trữ 7 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
- ^ “Thủ Lĩnh Thẻ Bài”. HTV3 Online. TVM Corp. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Thủ Lĩnh Thẻ Bài”. HTV3 Online. TVM Corp. Bản gốc lưu trữ 15 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018.
- ^ Mi Ty (2 tháng 7 năm 2017). “Diện mạo mới của kênh HTV3”. Thế giới điện ảnh. Hội Điện ảnh Việt Nam. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018.
- ^ Madhouse (31 tháng 7 năm 2018) [2008]. “Sakura và quyển sách phép thuật”. Thủ lĩnh thẻ bài. Mùa 1. Tập 1. Danh đề. HTV3.
- ^ Kusumanto, Dody (29 tháng 1 năm 2018). “Anime Cardcaptor Sakura: Clear Card akan Berjumlah 22 Episode”. KAORI Nusantara (bằng tiếng Indonesia). PT Nazeka Paramuda Nusantara. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ Janet Hope Camilo Tauro (24 tháng 2 năm 2015) [2003]. “In Focus: Telenovela, Anime Transform Landscape of Philippine TV” (bằng tiếng Anh). Ủy ban Quốc gia về Văn hóa và Nghệ thuật. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018.
- ^ Anime News Network Thailand (28 tháng 11 năm 2016). การ์ตูน Cardcaptor Sakura: Clear Card Arc เข้าคิวเป็นอนิเมะฉายมกราคาปี 2018 นี้. DexNews (bằng tiếng Thái). Dream Express (DEX). Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018.
- ^ ดีวีดี การ์ดแคปเตอร์ ซากุระ แผ่น 18. DEXclub.com (bằng tiếng Thái). Dream Express (DEX). Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018.
- ^ Hàm Nhân (3 tháng 8 năm 2017). 还记得那些年星空卫视日漫系列吗?犬夜叉、魔法迷路、百变小樱、魔女的考验……都是最爱. Đản Đản Tán (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
- ^ 童年卡通大檢閱!25部那些年一起追的動畫. LifeMag (bằng tiếng Trung). Companhia de Telecomunicações de Macau. 27 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
- ^ 庫洛魔法使(TV版全18集). Thư viện video gia đình Đài Loan (bằng tiếng Trung). Ej Information. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
- ^ 《自由電子報》影音娛樂網 【CODE GEASS反叛的魯路修】動漫商品抽獎活動 (bằng tiếng Trung). Thời báo Tự Do. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
- ^ TV프로. C5. Dong-a Ilbo (bằng tiếng Hàn) (Seoul). 23 tháng 6 năm 1999. tr. 41. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018. (cần đăng ký (trợ giúp)).
SBS. 6시 15분. 카드캡터 체리<첫회>
- ^ TV프로. C9. Dong-a Ilbo (bằng tiếng Hàn) (Seoul). 29 tháng 9 năm 2000. tr. 53. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018. (cần đăng ký (trợ giúp)).
SBS. 6시 15분. 카드캡터 체리<마지막회>
- ^ Castellano, Marc (7 tháng 7 năm 2000). “South Korea to ease ban on Japan cultural goods” [Hàn Quốc dỡ bỏ lệnh cấm văn hóa phẩm Nhật Bản]. Weekly Review. Journal of Economic Integration (bằng tiếng Anh) (Washington, D.C.: Viện Kinh tế Nhật Bản tại Hoa Kỳ) 26. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2016.
- ^ Jung-yeol (12 tháng 11 năm 1999). TV만화 포켓몬스터 어린이 인기 독차지. News Naver (bằng tiếng Hàn). Naver. Yonhap. Bản gốc lưu trữ 13 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2018.
- ^ a ă Lee Jung-hyun (30 tháng 3 năm 2018). '카드캡터체리', 20년만에 투니버스서 재더빙판 방영 (bằng tiếng Hàn). Yonhap. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018.
- ^ 투니버스 4월 신작안내 (bằng tiếng Hàn). Tooniverse. Bản gốc lưu trữ 13 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018.
- ^ Considine, J. D. (20 tháng 1 năm 2002). “Television/Radio; Making Anime A Little Safer For Americans”. The New York Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ Poitras, Gilles (2001). Anime Essentials: Every Thing a Fan Needs to Know (bằng tiếng Anh). Stone Bridge Press. tr. 27. ISBN 978-1-880656-53-2.
- ^ “RTE Guide – TV Schedules” (bằng tiếng Anh). RTÉ2. Bản gốc lưu trữ 2 tháng 9 năm 2002. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2017.
- ^ “Andrea Kwan”. Behind The Voice Actors (bằng tiếng Anh). Inyxception Enterprises. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Cardcaptors” (bằng tiếng Anh). MSN TV. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010.
- ^ “Cardcaptors – 'Revelations' Episode Info” (bằng tiếng Anh). MSN TV. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010.
- ^ a ă “Sailor Moon Explained, Plus Fushigi Yugi, Cardcaptors, More Pioneer Has Loads of Shojo” (bằng tiếng Anh). ICv2. 12 tháng 8 năm 2001. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2009.
- ^ a ă â b c Arnold, Adam. “Cardcaptors Vol.1: Tests of Courage” (bằng tiếng Anh). Animefringe. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptors — Tests of Courage (Vol. 1) (VHS)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptors — Tests of Courage (Vol. 1) (2000)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptors — Star Power (Vol. 9) (VHS)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptors: V.9 Star Power (ep.25-27)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura — The Clow (Vol. 1)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura — Revelations (Vol. 18)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura — The Clow Volume 1 (VHS)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura — Trust (Vol. 11) (VHS)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ Ressler, Karen (1 tháng 5 năm 2014). “NIS America Licenses Cardcaptor Sakura TV Anime” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2014.
- ^ Blair, Georgia (24 tháng 3 năm 2012). “Madman to Release Cardcaptor Sakura and Rozen Maiden Overture” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2013.
- ^ “Cardcaptor Sakura Collection 1 Moved to September” (bằng tiếng Anh). Madman Entertainment. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2013.
- ^ “Cardcaptor Sakura (Uncut) Collection 2 (eps 36-70)” (bằng tiếng Anh). Madman Entertainment. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2013.
- ^ a ă Corte, Marco Della (13 tháng 7 năm 2017). “Pesca la tua carta Sakura: presentato il nuovo OAV a Los Angeles”. Gingergeneration.it (bằng tiếng Italy). Smiling. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Renata Bertolas”. Behind The Voice Actors (bằng tiếng Anh). Inyxception Enterprises. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018.
- ^ a ă â “Sakura, Chasseuse de Cartes”. Planète Jeunesse (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Sakura Chasseuse de Cartes, VHS FR”. Sakura DreamCartes (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ a ă Algol (28 tháng 9 năm 2003). “Critique DVD de Card Captor Sakura – Série – Volumes 1 à 4”. DVDanime.net (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Card Captor Sakura – Saison 3” [Cardcaptor Sakura – mùa 3] (bằng tiếng Pháp). Amazon.fr. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ a ă Lovers (6 tháng 3 năm 2005). “Critique DVD de Card Captor Sakura – Série – Edition Premium VO/VF – Saison 2”. DVDanime.net (bằng tiếng Pháp). Présentation. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Card Captor Sakura – Saison 2” [Cardcaptor Sakura – mùa 2] (bằng tiếng Pháp). Amazon.fr. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Sakura Saison 3 Part 1 (Premium) [Édition Prestige]” (bằng tiếng Pháp). Amazon.fr. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Sakura Saison 3 Part 2 (Premium) [Édition Prestige]” (bằng tiếng Pháp). Amazon.fr. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Card Captor Sakura – Saison 1, Partie 1 [Édition Prestige]” (bằng tiếng Pháp). Amazon.fr. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Sakura Saison 1 Part 2 (Premium) [Édition Prestige]” (bằng tiếng Pháp). Amazon.fr. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Coffret intégrale Card Captor Sakura – Edition Collector 15 DVD [inclus 1 Livret]” (bằng tiếng Pháp). Amazon.fr. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Sakura (Card Captor) – Saison 1 – Edition Collector (6 DVD + Livret)” (bằng tiếng Pháp). Amazon.fr. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Sakura (Card Captor) – Saisons 2 et 3 – Edition Collector (9 DVD + Livret)” (bằng tiếng Pháp). Amazon.fr. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Sakura (Card Captor) – Intégrale – Edition Collector Limitée (15 DVD + Livrets)” (bằng tiếng Pháp). Amazon.fr. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Sakura (Card Captor) – Intégrale (remasterisée) – Edition Collector Limitée [Blu-ray] [Édition Collector Limitée]” (bằng tiếng Pháp). Amazon.fr. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Card Captor Sakura (Sakura, chasseuse de cartes) – Intégrale – Edition collector limitée – Coffret A4” (bằng tiếng Pháp). Black Box. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Card Captor Sakura”. Fernsehserien.de (bằng tiếng Đức). Imfernsehen. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Card Captor Sakura”. Video-Datenbank (bằng tiếng Đức). Animexx. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ^ Clarós, Isabel; Férnandez, María J.; Balaguer, Àngels (25 tháng 12 năm 2000). Godó, Grupo, biên tập. “Vivir en Barcelona – Televisión”. La Vanguardia (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2012.
- ^ Sant'Anna, Mike (8 tháng 10 năm 2016). “10 Coisas que você precisa saber sobre Sakura Card Captors!”. Legião dos Heróis (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Universo Online. tr. 10. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018.
- ^ Machado, Filipa (3 tháng 4 năm 2017). “Vem aí um novo anime de Cardcaptor Sakura”. Magazine.HD (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018.
- ^ Petra (3 tháng 5 năm 2016). “Cardcaptor Sakura: Al 20 jaar de schattigste Magical Girl!”. The Sushi Times (bằng tiếng Hà Lan). Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018.
- ^ Gentele, Jeanette (19 tháng 12 năm 2004). “SVT börjar sända tecknat från Japan”. Svenska Dagbladet (bằng tiếng Thụy Điển) (Schibsted). Bản gốc lưu trữ 21 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
- ^ 劇場版カードキャプターさくら [Gekijōban Cardcaptor Sakura] (bằng tiếng Nhật). Madhouse. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくら【劇場版】 (VHS)” [Cardcaptor Sakura: The Movie (VHS)] (bằng tiếng Japanese). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ カードキャプターさくら【劇場版】 (DVD) [Cardcaptor Sakura: The Movie (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptors — The Movie [VHS] (2000)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura — The Movie (1999)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ^ 劇場版カードキャプターさくら 封印されたカード [Cardcaptor Sakura Movie 2: The Sealed Card] (bằng tiếng Nhật). Madhouse. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010.
- ^ 劇場版 カードキャプターさくら 封印されたカード (DVD) [Cardcaptor Sakura Move 2: The Sealed Card (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ 劇場版カードキャプターさくら 封印されたカード~ばっちしV (VHS) [Cardcaptor Sakura Movie 2: The Sealed Card Batchishi V (VHS)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura — The Movie 2 - The Sealed Card (Special Edition)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ Mays, Jonathan (18 tháng 6 năm 2003). “Cardcaptor Sakura Movie 2 Licensed, New Dub Cast” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2009.
- ^ Loo, Egan (26 tháng 9 năm 2007). “Geneon USA to Cancel DVD Sales, Distribution by Friday” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ Loveridge, Lynzee (16 tháng 7 năm 2013). “Discotek Adds Devilman TV, Cardcaptor Sakura Film, Jin-Roh, Dallos” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2013.
- ^ “Cardcaptor Sakura Movie 2: The Sealed Card” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2018.
- ^ Ressler, Karen (25 tháng 5 năm 2018). “Discotek Licenses Devilman, Angel Cop, Cat Girl Nuku Nuku, Law of Ueki, Cardcaptor Sakura: The Sealed Card” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2018.
- ^ “Card Capture Sakura News” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 17 tháng 4 năm 2000. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2011.
- ^ “CDコミックカードキャプターさくら” [CD Comic Cardcaptor Sakura] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “さくらとお母さんのオルガン” [Sakura to Okaa-san no Orgen] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Sweet Valentine Stories” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “オリジナルサウンドトラック” [Original Soundtrack] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “オリジナル・サウンドトラック4” [Original Soundtrack 4] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “オリジナル・サウンドトラック” [Original Soundtrack] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “オリジナル・サウンドトラック” [Original Soundtrack] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Catch You Catch Me” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “扉をあけて” [Tobira o Akete] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “プラチナ” [Platinum] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Groovy!” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Honey” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Fruits Candy” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “遠いこの街で” [Tōi Kono Machi de] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “明日へのメロディー” [Ashita e no Melody] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “おかしのうた” [Okashi no Uta] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Character Single Sakura” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Character Single Touya” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Character Single Kero” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Character Single Tomoyo” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Character Single Yukito” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Character Single Syaoran” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Character Songbook” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくら「友枝小学校コーラス部クリスマスコンサート」” [Cardcaptor Sakura Tomoeda Elementary Choir Club Christmas Concert] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくら 「コンプリート・ボーカル・コレクション」” [Cardcaptor Sakura Complete Vocal Collection] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “主題歌コレクション” [Theme Song Collection] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptors: Songs from the Hit TV Series” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă â b “Card Captor Sakura: Itsumo Sakura-chan to Issho! for Game Boy Color” (bằng tiếng Anh). GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă â b “カードキャプターさくら 「さくらちゃんとあそぼ!」” [Cardcaptor Sakura: Sakura-chan to Asobo!] (bằng tiếng Nhật). GameSpot. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくら さくらちゃんとあそぼ!” [Cardcaptor Sakura: Sakura-chan to Asobo!] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010.
- ^ a ă â b “ゲームカタログ:エム・ティー・オー株式会社” [Game Catalog: MTO.Co.,Ltd.] (bằng tiếng Nhật). MTO. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă â “Anime Chick Story 1: Card Captor Sakura for PlayStation” (bằng tiếng Anh). GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă “アニメチックストーリーゲーム (1) カードキャプターさくら” [Animetic Story Game (1) Cardcaptor Sakura] (bằng tiếng Nhật). Arika. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă â “Card Captor Sakura: Sakura to Fushigi na Clow Cards for WonderSwan” (bằng tiếng Anh). GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă â “Card Captor Sakura: Tomoyo no Video Daisakusen for Dreamcast” (bằng tiếng Anh). GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă â “カードキャプターさくら クロウカードマジック” [Cardcaptor Sakura: Clow Card Magic] (bằng tiếng Nhật). Arika. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă â “Tetris with Card Captor Sakura: Eternal Heart for PlayStation” (bằng tiếng Anh). GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă “TETRiS with カードキャプターさくら エターナルハート” [Tetris with Cardcaptor Sakura: Eternal Heart] (bằng tiếng Nhật). Arika. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă â “Card Captor Sakura: Tomoe Shougakkou Daiundoukai for Game Boy Color” (bằng tiếng Anh). GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă â “Cardcaptor Sakura: Sakura Card de Mini Game” (bằng tiếng Anh). IGN. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă â “どんなゲーム?-カードキャプターさくら” [What Kind of Game?–Cardcaptor Sakura] (bằng tiếng Nhật). MTO. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくらイラスト集” [Cardcaptor Sakura Illustration Collection] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくらイラスト集 (3)” [Cardcaptor Sakura Illustration Collection (3)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “チェリオ!―テレビアニメーション カードキャプターさくらイラストコレクション” [Cheerio! TV Animation Cardcaptor Sakura Illustration Collection] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “アニメーションカードキャプターさくらイラストコレクションチェリオ! (3)” [Animation Cardcaptor Sakura Illustration Collection Cheerio! (3)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくらクロウカードセット” [Cardcaptor Sakura Clow Card Set] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “クロウカードフォーチュンブック―カードキャプターさくら” [Clow Card Fortune Book – Cardcaptor Sakura] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくらメモリアルブック” [Cardcaptor Sakura Memorial Book] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “テレビアニメーションカードキャプターさくらコンプリートブック (クロウカード編)” [TV Animation Cardcaptor Sakura Complete Book (Clow Card Arc)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “テレビアニメーションカードキャプターさくらコンプリートブック (2)” [TV Animation Cardcaptor Sakura Complete Book (2)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “劇場版カードキャプターさくらコンプリートブック” [Cardcaptor Sakura: The Movie Complete Book] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “劇場版カードキャプターさくら封印されたカード コンプリートブック” [Cardcaptor Sakura Movie 2: The Sealed Card Complete Book] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくら 1 (なかよしメディアブックス 51 アニメブックス)” [Cardcaptor Sakura 1 (Nakayoshi Media Books 51 Anime Books)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくら 10 (なかよしメディアブックス 60 アニメブックス)” [Cardcaptor Sakura 10 (Nakayoshi Media Books 60 Anime Books)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくら さくらカード編 1 (なかよしメディアブックス 61 テレビアニメシリーズ)” [Cardcaptor Sakura Sakura Card Arc 1 (Nakayoshi Media Books 61 TV Anime Series)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくら さくらカード編 3 (なかよしメディアブックス 64 テレビアニメシリーズ)” [Cardcaptor Sakura Sakura Card Arc (Nakayoshi Media Books 64 TV Anime Series)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくら 1 (講談社のテレビ絵本 1028)” [Cardcaptor Sakura 1 (Kodansha's TV Picture Book 1028)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくら 4 (講談社のテレビ絵本 1147)” [Cardcaptor Sakura 4 (Kodansha's TV Picture Book 1147)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくらシールあそびえほん” [Cardcaptor Sakura Seal Asobi Ehon] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “カードキャプターさくらシールあそびえほん 2004―さくらカードがいっぱい!” [Cardcaptor Sakura Seal Asobi Ehon 2004 – Sakura Card ga Ippai!] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ Oshiguichi, Takashi (Tháng 12 năm 2008). “Anime Focus: On Cardcaptor Sakura”. Animerica (bằng tiếng Anh) (San Francisco, California: Viz Media) 8 (11): 70. ISSN 1067-0831. OCLC 27130932.
- ^ “星雲賞リスト” [Seiun Award List] (bằng tiếng Nhật). Federation of the Science Fiction Fan Groups of Japan. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă Aoki, Deb. “2010 Comic-Con Best and Worst Manga Panel” (bằng tiếng Anh). About.com. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă Anderson, Lisa. “Cardcaptor Sakura v1” (bằng tiếng Anh). Manga Life. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă â Nguyen, Robert. “Cardcaptor Sakura Manga Vol. 1” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Cardcaptor Sakura Clear Card Manga Has 1.5 Million Copies in Print” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 18 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2017.
- ^ “第22回アニメグランプリ (2000年6月号)” [22nd Animage Grand Prix (June 2000 issue)] (bằng tiếng Nhật). Animage. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2009.
- ^ “Japan's Top 10 Bestselling Anime”. Viz Media. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2001.
- ^ Lew, Kevin; Carlos Ovalle, Winnie Chow (Tháng 12 năm 2000). “Animerica Spotlight: Cardcaptor Sakura”. Animerica (bằng tiếng Anh) (San Francisco, California: Viz Media) 8 (11): 15. ISSN 1067-0831. OCLC 27130932.
- ^ Chow, Winnie (Tháng 3 năm 2001). “Anime Radar: News”. Animerica (bằng tiếng Anh) (San Francisco, California: Viz Media) 9 (2): 75. ISSN 1067-0831. OCLC 27130932.
- ^ a ă “Cardcaptor Sakura DVD 18: Revelations” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Ngày 21 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă Shepard, Chris. “Cardcaptor Sakura DVD 1 - The Clow” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ Dong, Bamboo (ngày 1 tháng 1 năm 2003). “Cardcaptor Sakura DVD 11: Trust” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ Beveridge, Chris (ngày 9 tháng 2 năm 2002). “Cardcaptor Sakura Vol. #01” (bằng tiếng Anh). Mania. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
- ^ a ă â Godek, Jake L. “CardCaptors” (bằng tiếng Anh). THEM Anime. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Taco Bell's Cardcaptor Promotion Runs through January 30” (bằng tiếng Anh). ICv2. Ngày 8 tháng 1 năm 2002. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2009.
- ^ “Was Cardcaptors Promo Pulled Due to 'Occult' Complaints? Or Did It End on Schedule” (bằng tiếng Anh). ICv2. Ngày 5 tháng 2 năm 2002. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2009.
| |||||||||||||||||||||||||

No comments:
Post a Comment